Skip to content

Kí: Hành trình đến vùng đất hứa “truyền thông” và chinh phục những con số biết nói

Thẻ ra vào tòa lâu đài trái Bắp

Mình đã từng ước sẽ được đặt chân đến vùng đất này. Và cuối cùng, mình đang ngồi trong lòng nó, lơ lửng trên không trung.

Chân ướt chân ráo của một người từ quỹ đầu tư mạo hiểm dành cho khởi nghiệp, do duyên đưa đẩy, mà cậu bé Tin Tin đến với thế giới truyền thông. Ấn tượng đầu tiên, chính là tòa cao ốc to và cao, hình trái bắp, nơi mà hồi lúc còn là sinh viên, trong một lần đi coi film, nhìn từ thang cuốn sang, thấy một hàng rào cửa điện tử chắn ở giữa sảnh.

Đi ra đi vào là những con người bận đồ suit-up rất lịch sự, tất nhiên cũng có nhiều chị trình diễn thời trang công sở. Lúc ấy nghĩ rằng, thể nào mình cũng phải vào đó khám phá xem ở trong đó có gì, có điều gì mới mẻ và khác lạ không. Thì nay, ngày hôm ấy mình đã đường hoàng đi vào với cái transit card cùng chữ Tien Tran trên ấy. Và cảm nhận mạnh mẽ thay đổi trong mình, hôm ấy, mình đã bước chân qua cánh cửa điện tử ấy. Một cảm giác hơi lạnh tay, chắc vì đang cầm li coffee lạnh. Mình đã tiến vào thế giới truyền thông bằng hình thức như thế đấy.

Lời nói dại khờ

Sau khi được gặp anh CEO, mình đã được transfer cho line manager của mình là anh “ăn gian”. (mình sẽ chỉ đề cập codename của từng người thôi). Anh ấy thì hơi hói hói, mà nghĩ bụng, hói thì sẽ khó tính à. Quả là đúng như thần, anh ấy dễ phải biết. Thích ngồi làm gì thì làm, sau khi gửi 1 mớ file về account mình sẽ phải làm, anh ấy cho mình bơi trong tệp tài liệu đấy. Đọc lấy đọc để. Không như các bạn khác, mình tận hưởng từng chút một thời gian vacation time in office ấy. Cho đến khi mình lỡ dại mồm nói với anh CEO, “hãy cho em việc để làm đi. Em muốn chứng minh.” Sau câu nói ấy, tất cả dường như vẫn vậy, chỉ duy nhất số lượng tệp file cần phải đọc được gia tăng nhanh chóng.

Phút bối rối

Account chính là F&B, nhưng vì mình vừa vào nên phải tiếp nhận một sự chuyển đổi, vừa học việc cho account chính vừa support cho account dầu nhớt, cũng khá nổi tiếng ở Việt Nam.

Mình bắt đầu học việc bằng report daily monitoring, nômngon na là check xem có đối thủ nào mới đang tung ra một TVC mới trên TV hay không sau đó share cho khách hàng. Tiếp đó, mình học anh “đôcon” về các làm, trình bày format cho một database tổng, có trích xuất tất cả dữ liệu mà mọi người làm planning đều phải coi để từ đó build lên plan cho từng campaign hay từng annual plan trong năm. Thường công việc planning sẽ yêu cầu multi-tasking khá cao, gì cũng phải biết gì cũng phải hỏi. Nhờ vậy mà kĩ năng nhờ và xin xỏ tăng đáng kể. Trong lúc làm mấy task đơn giản, các sếp các anh chị nói chuyện với nhau mà các industry terminology hay là media planning terms.

“Em coi cái campaign đó chạy bao nhiêu GRP với Reach của nó là nhiêu? Reach 3+ luôn cho anh. À sẵn track luôn cái số quý trước luôn nhé.”

Mọi người trao đổi với nhau theo các hình thức tương tự. Đầu óc dù không uống bia cũng say say. Nhưng nghe qua cảm giác nó rất đã rất phê, nhất là khi anh “angian” nói, anh luôn dùng linh hoạt cái tay của mình, gập gập cái tay cong cong như con cua ấy, anh gọi cử chỉ đó là track, là đo lường.

Chả biết sao mà giờ mình cũng hay bị nhiễm. Vợ hay hỏi “tình hình buôn bán của em dạo này hơi xuống dốc đó anh.” Xong mình kiểu trả lời, “em coi dữ liệu chưa, track coi xem nó xuống từ khi nào? Tại sao xuống?”. Bả điên lên nói “chắc chắc cái đầu ông…” Đúng là con gái, người ta đang rất tập trung hỏi mà nghĩ cái gì đó : )) Sẵn share với mấy bạn nào đang đọc cái này một số thuật ngữ cơ bản trong ngành và định nghĩa media industry là gì nhé (gọi là hoạch định truyền thông).

Bộ tứ agency

Khi làm quảng cáo, ta có 4 nhóm agency chính, nhiệm vụ là support cho các client trên từng lĩnh vực:

1.Research

2.Creative Agency

3.Media Agency

4.PR agency

Ở đây thì chỉ biết sơ sơ về media agency nên chia sẻ theo kinh nghiệm YTD thôi nghen. Media Agency được hiểu là công ty sẽ hoạch định và mua bán truyền thông sao cho ROI càng cao càng effective thì tốt. Nhắc đến media là nhắc đến câu chuyện làm sao để tăng được nhận thức của khách hàng, người ta hay nói cuộc chiến về nhận thức đó. Đặc biệt, ở các lĩnh vực FMCG, bạn sẽ thấy rõ được brand awareness quyết định đến sales đến profits và đến tương lai của một doanh nghiệp đó như thế nào.

TERMINOLOGY

Từ cửa miệng của các media planners. GRP & Reach

Với mình, cách tốt nhất để hòa hợp vào một thế giới mới đó chính là, học và sử dụng chính ngôn ngữ của họ, ngôn ngữ của truyền thông. Một vài từ cơ bản sau đây sẽ giúp bạn hiểu 40% các tình huống khi planning trên TV.

GRP: (gross rating points) là tổng số lượng khán giả mà khi xem quảng cáo trên TV trong cùng 1 khung thời gian nhất định

Reach: Số lượng người xem chương trình trên TV trong ít nhất 1 lần – số lượng duplication sẽ không được tính

Frequency = OTS (opportunity to see): số lần người xem thấy quảng cáo. Điểm khác biệt giữa Reach & OTS chính là, nếu Reach cho ta thấy được độ phủ, độ rộng của spot quảng cáo thì OTS cho thấy được số lần trung bình người xem nhìn thấy quảng cáo. Vì thường theo khảo sát, một người xem trung bình cần ít nhất 3 lần xem để có thể nhớ về 1 mẫu quảng cáo nào đó.

Medium = channel = touchpoint: kênh quảng cáo, gồm 5 kênh chính (hay gọi là ATL): TV | Radio |Print |OOH |Digital

Tòa thị chính Media

Mình dành 12 tiếng mỗi ngày để hiểu rõ hơn về tòa thị chính, đồng thời trau dồi kiến thức để một ngày có thể chinh phục các phù thủy tại sân ga.

Media planning có 2 vùng đất chính là Media Planning & Media Buying. Media planning – hoạch định, tính toán, ước lượng các chỉ số riêng biệt cho sản phẩm của khách hàng có thể reach đến càng nhiều người nằm trong target audience nhất có thể. Từ đó, khiến họ thực hiện một hành động, đó là mua hàng.

Một standard process của media planning sẽ gồm có 4 bước:

1.Market Analysis: đánh giá tình hình thị trường chung, xác định được taget audience, clarify các SWOT and PESTLE analysis.

2.Establisment of media objective: đưa ra những mục tiêu cụ thể cho 1 năm tổng, sau đó có thể break down theo từng quý và từng brand trong năm.

3.Media strategy development & implementation: sau khi đã qua các bước thẩm định “đất tốt hay xấu”, ta quyết định các medium sẽ chạy để promote cho campaign gọi là the media-mix, chọn ra các top regions (khu vực trong điểm) phải đánh, lên schedule cho nó và bắt đầu chạy.

4.Evaluation and follow-up: chạy xong thì đánh giá mức hiệu quả, ROI, so sánh các chỉ số GRP/ Reach ở TV, lượt views – CTA, CPM trên digital, traffics trên các OOH, Print & Radio. Rút ra những kinh nghiệm – key learnings cho campaign đó và tiếp tục chạy (nếu có) cho thời gian kế tiếp.

Chỉ có đơn giản vậy thôi đó, mà trong công ty, mọi người làm không hết việc. Điểm khiến bản thân cảm thấy hụt nhất đó chính là, mình có lợi thế về viết và sáng tạo, thì media planning, số liệu, data, excel is a must. Vô làm việc nói chuyện dựa trên số số số, lúc đầu cảm thấy rất ngột với nó, nhưng dần, sau nhiều lần bị chặt chém, cảm thấy học rất nhiều từ việc đọc số. Vì với mình, bây giờ mỗi con số đều nói lên một câu chuyện nào đó, tùy ở mức độ khác nhau.

The interesting here is when you know the stories behind the numbers, you gonna love it.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: